Lịch Sử Vang Dội của dòng họ LƯƠNG – Và triều đại nhà TẦN Hùng Mạnh .

 Advertisement 



Thuyết họ Lương từ tộc Doanh mà ra



 Advertisement 



Trong cộng đồng các dân tộc Việt nam họ Lương không đông đảo về số lượng, theo thống kê gần đây họ Lương đứng vào danh sách những dòng họ có số dân ít nhất, chiếm khoảng 0,7 % dân số cả nước. Nhưng không vì thế mà nói là dòng họ nhỏ. Không nhỏ bởi tầm vóc của dòng họ được thể hiện về các khía cạnh. Trước hết về không gian, trong 63 tỉnh thành , ở đâu cũng có con dân họ Lương sinh sống. không nhỏ về khía cạnh thời gian, trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, trong bất kể giai đoạn nào cũng có con dân họ Lương đóng góp trí tuệ tài năng vào sự nghiệp chung và trong các lĩnh vực Chính trị ,Quân sự, Ngoại giao, khoa học kỹ thuật, công nghệ Văn học nghệ thuật đều có con dân họ Lương góp mặt.



 Advertisement



Họ của hoàng gia Tần là Doanh 嬴氏. Theo thông lệ, chỉ ngành trưởng 長族 nối ngôi 繼位, mới mang họ Doanh 嬴氏, còn các ngành khác mang họ là tên đất nơi phong ấp. Người nối ngôi Tần Trọng hiệu là Tần Trang Công (秦莊公, cai trị 822 tCn – 778 tCn) huý là Doanh Dã 嬴也. Một người con khác của ông được ban đất Hạ Dương 贺阳 (ở tỉnh Hà Bắc nay) và phong tước Lương Bá 梁伯. Cháu chắt ông nhận tên tước vị 爵 Lương Bá 梁伯 làm tên họ 梁氏.

* Thuyết họ Lương từ họ Bạt Liệt Lan đổi thành:

Một tài liệu khác cho rằng thời Bắc Ngụy, vua Hiếu Văn Đế Nguyên Hoành (孝文帝元宏, 471-499) ra nhiều sắc lệnh cải cách xã hội, đẩy mạnh qúa trình Hán hoá 漢化 trong đó có việc tự đổi họ Thác Bạt 拓拔氏 ra họ Nguyên 元氏, Những người họ Thác Bạt xa thì đổi làm Trưởng Tôn, họ Ất Phiên đổi thành Thúc Tôn. Các họ kép (hai chữ) đều đổi thành họ đơn (1 chữ), trong đó 8 họ sang nhất là: Mục, Lục, Hạ, Lưu, Lâu, Vũ, Hệ, Uất và đổi họ ba chữ Bạt Liệt Lan 拔列兰 thành họ đơn, một chữ Lương 梁 .

Tiếng Trung Quốc hiện đại ghi là “Liáng”, Bạch thoại ghi là “Niû”. Tiếng Nhật ghi là “Ryō”, Yang 양, Ryang 량. Trong cuốn Bách gia Tính 百家姓, một văn bản ghi lại các họ phổ biến của người Trung Quốc được soạn vào đầu thời Bắc Tống thì họ Lương xếp thứ 32 và được chép trong câu: “项 Hạng, 祝 Chúc, 董 Đổng, 梁 Lương”.

 advertisement



Chữ Lương 梁, tên dòng họ có bộ Mộc 木 và 氵刃 nghĩa là cái cầu, mọi người đều phải nhờ đó mà qua. Chỗ đắp bờ để nuôi cá gọi là ngư lương 魚梁. Còn chữ Lương 涼 có chấm Thuỷ 氵và chữ kinh 京 có nghĩa là mỏng, lạnh được viết chỉ tên châu, nước do người Hồ lập ra thời Ngũ Hồ loạn Hoa (五胡亂花, 304-439).

Bên Trung Hoa có một số triều đại Lương, nhưng bên đó tên triều đại 朝 không phải là họ của Hoàng gia 皇族 do vậy các triều nhà Lương 凉朝,梁朝 bên Tầu vua không phải người họ Lương 梁氏.Đó là: Nhà Tiền Lương (前凉, Qián Liáng, 320–376), Nhà nước Hậu Lương (后凉,後凉, Hòu Liáng, 386-403), Nước Lương (梁朝, 502 – 549), Nhà Hậu Lương (后梁, 後梁, Hòu Liáng, 907-923).

 Advertisement 



Một số nhân vật họ Lương nổi tiếng bên Tầu: Lương Triều Vỹ: diễn viên điện ảnh Hồng Kông; Lương Vịnh Kỳ: diễn viên điện ảnh Hồng Kông; Lương Gia Huy: diễn viên điện ảnh Hồng Kông.

2. Họ Lương Việt Nam:



  • Thuyết cho rằng từ Trung Quốc sang:

Một số người thuộc Hán tộc cư ngụ ở miền nam Trung Hoa rồi di cư xuống miền bắc Việt Nam để lập nghiệp. Có lẽ đây là hậu duệ của Lương Long sau khởi nghĩa 178-181 thất bại hay là hậu duệ của Lương Thạc 梁硕,người từng dành quyền và tự lĩnh chức Thứ sử Giao Châu vào năm Mậu Dần (318) thời Đông Tấn. Nếu đúng vậy thì do tổ tiên đều gốc Bách Việt đứng lên chống lại Hán tộc nhưng bị thất bại phải Nam cư.

  • Do quan lại cai trị gán họ:

Ngoài số này còn có những cư dân Việt tộc khác, đến khi người Hán hoàn thành việc chiếm Âu Việt vẫn chưa có họ nên bắt chước hay bị quan lại nhà Hán ép mang họ sẵn có từ Bắc quốc sang, trong đó có họ Lương.Đây là tình trạng chung của nhiều họ cũng như một số họ dân thiểu số tại Việt Nam sau này.

* Địa bàn cư trú:

Theo “Bắc địa tấu từ” thì từ thời vua Lê Đại Hành (黎大行; 941 – 1005) các tỉnh ngoài bắc có rất nhiều tộc sinh sống, riêng tộc Lương thấy ở 2 tỉnh :

– Tỉnh Sơn Tây có: Thủy tổ tộc là Lương Trọng Lịch;

– Tỉnh Hà Tĩnh có: Thủy tổ tộc là Lương Công Anh.

Con cháu tộc của thủy tổ tộc Lương ở đây có nhiều chữ lót khác nhau như Văn, Công, Phúc, Trọng, Trường, Đình, Ngọc…Từ đời Tiền Lê, tộc Lương phát triển đến nhiều tỉnh khác nhau (do sự di dân, mở đất).



  • Khởi từ Hội trào phát ra:

Cũng có thuyết khác cho rằng từ lâu đời đã có một dòng họ cư ngụ tại miền Trung Việt Nam: làng Hội Triều (Hội Trào), tỉnh Thanh Hóa, gần Sầm Sơn. Nơi đây, hiện nay vẫn còn đền thờ cụ Lương Đắc Bằng , được coi là thủy tổ của dòng họ.

  • Phân bố hiên nay:

Có nhiều người, nhiều gia đình họ Lương trên khắp 3 miền Bắc-Trung-Nam, miền xuôi và miền ngược, trong cộng đồng người Kinh, người Tầy, người Mường, người Thái…và ở Hải ngoại.

Trong đó có nhiều dòng mang những tên đệm khác nhau hoặc có dòng chữ lót đặt tuỳ ý không theo một quy luật nào. Nhưng Lương Đức 梁德 với quy định cha, con, cháu…đều mang chữ lót là “Đức” thì sinh sống hay xuất phát đều từ Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng. Khởi thuỷ là Lương Công Nghệ 梁公羿 được thân phụ đưa từ Đăng Lai, Tiên Lãng sang vào giữ thế kỷ XVIII để tìm nơi đất mới khai hoang. Còn trước nữa Tổ tiên cụ Lương Công Trạch từ đâu đến Đăng Lai, đến từ bao giờ và trong hoàn cảnh nào chưa khảo cứu được. Ban đầu vẫn giữ là Lương Công đến đời thứ 3 có 3/4 chi đổi thành Lương Đức 梁德, chi còn lại đổi: Lương Hoàn 梁完. Ngoài ra có một số phân ngành trở lại Tiên Lãng (thế kỷ XIX) hay sang Tứ Kỳ (Hải Dương, thế kỷ XVIII) hoặc vào Nam (sau 1954 và sau 1975), lên Lào Cai (1962-1970) sinh sống, đã lập nên những dòng chi mới nơi đây. Dòng Lương Đức ở Lào Cai 老街梁德 chủ yếu ban đầu xuất phát từ An Phong, Phong NiênBảo Thắng từ 7 hộ ban đầu từ Làng Hươngxã Chiến Thắng (Ruẩn, Thông, Thân, Dật, Thiếp, Thuế, Tâm) lên khai hoang đến nay tới 25 hộ nam, 27 hộ nữ (đến 12/2008)ở Phong Niên, Xuân Quang, Trì Quang, Phố Lu (thuộc huyện Bảo Thắng) và thành phố Lào Cai. Hiện đã có đời thứ 4 ở đây, tức đời thứ 10 từ Tổ khai cơ; một số đã chuyenẻ về Hà Nội, Lâm Đồng sinh sống. Hiện đã có: 2 Liệt sĩ, 2 thương binh, 4 Cựu chiến binh, 7 Đại học, sau Đại học, 9 Cao đẳng, Trung cấp, 1 sĩ quan cao cấp, 5 sĩ quan trung cấp…công tác tại các ngành ở tỉnh, huyện, xã. Dòng này thực hiện việc Giỗ Vọng tổ vào Rằm tháng Giêng và tổ chức tại nhà ông Lương Đức Thân ở thôn An Phong.

Với các dân tộc thiểu số, một vài nơi họ Lương được gọi là họ Lường nhưng xem các bài cúng bằng chữ Nôm thấy vẫn ghi là 梁, tức Lương

Trong khi đó một số chi nhánh họ Lương ở miền Nam không thuộc dạng này bởi đó là những di dân có nguồn gốc từ Phúc KiếnTriều Châu sang hồi thế kỷ XVII sau sự sụp đổ của nhà Minh 明朝. Đó là những người Minh Hương 明鄉人, tự nhận và nhà nước công nhận họ là Hoa Kiều 華僑.

Một vài nhân vật nổi tiếng ở Việt Nam: Lương Thế Vinh, trạng nguyên, nhà toán học, phật học, nhà thơ người Việt; Lương Đắc Bằng, trạng nguyên; Lương Hữu Khánh, thượng thư Bộ Lễ thời Lê Trung hưng; Lương Thị Minh Nguyệt, có công diệt giặc Minh, được Lê Lợi phong là “Kiến quốc phu nhân”; Lương Văn Can, nhà giáo, sáng lập và là hiệu trưởng trường Đông Kinh Nghĩa Thục; Lương Ngọc Quyến, nhà cách mạng; Lương Kim Định, linh mục, nhà triết học; Lương Định Của, giáo sư nông học…

Theo Wikipedia

Add to favorite

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *